Nguyễn Đức Quang "Già Cơ" viết về Nguyễn Đức Quang"Du Ca"

17 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 18133)
Nguyễn Đức Quang "Già Cơ" viết về Nguyễn Đức Quang"Du Ca"
NGUYỄN ĐỨC QUANG "GIÀ CƠ"
VIẾT VỀ NGUYỄN ĐỨC QUANG "DU CA"


634228985743805391_263x400Tôi và Nguyễn đức Quang tình thân thì có, nhưng thông cảm, hiểu biết nhau thì không. Co' nhiều lý do để tôi và Quang thân nhau. Thứ nhất là vì tôi và Quang là bạn học. Chúng tôi học với nhau bốn năm tại trường CTKD thuộc viện đại học Đà Lạt. Thứ hai vì tôi và Quang cùng là sinh viên sĩ quan trừ bị khóa 9/68 Thủ Đức. Trong thời gian ở trường Võ Bị, tôi và Quang ở trong một nhóm 10 người được biệt phái 2 tuần về trường Trung Học Đệ Nhất Cấp Võ Khoa Thủ Đức. Tại trường này, chúng tôi có nhiệm vụ tổ chức cho trường có những đơn vị Thiếu Sinh Quân Đội và huấn luyện cho các em học sinh những kỹ năng của Hướng Đạo. Lý do thứ ba, tôi và Quang là khóa sinh của một khóa Cơ Bản CTCT của Trường CTCT thuộc Cục Chính Huấn trong ba tháng . Lý do thứ tư, tôi và Quang cùng làm việc tại phòng Hướng Dẫn Sinh Hoạt thuộc Cục Chính Huấn trong thời gian một năm. Lý do thứ năm là mỗi lần lên thăm Seattle, Quang đều ở lại nhà tôi mặc dầu Quang được rất nhiều người mời đến ở lại nhà của họ. Mặc dầu quen biết nhau một thời gian khá lâu, nhưng chúng tôi vẫn không trở thành đôi bạn thân thiết . Lý do không phải vì khác tính tình, khác chính kiến … Lý do chính có lẽ là chúng tôi ít có dịp làm việc chung với nhau và khả năng khác nhau. Chúng tôi là bạn nhưng không chung bè. Tôi không có bè, Quang thì có. Quang không những có bè mà còn chèo lái cái bè Du Ca to tướng. Trong suốt bốn năm trường tại Viện Đại Học Đà Lạt chúng tôi gập nhau rất ít. Năm 1964 đến năm 1968 là những năm hoạt động sôi nổi của các phong trào thanh niên. Quang là người sáng lập Phong Trào Du Ca thì làm gì có nhiều thời giờ để đến lớp. Trong bốn năm tôi và Quang ngồi cạnh nhau trong bốn kỳ thi cuối khóa của bốn năm học. Những lần gập nhau trong những kỳ thi thì chắc chắn chúng tôi không nói chuyện với nhau nhiều. Nói nhiều sợ quên hết chữ. Lúc chờ phát đề thi thì mặt ai cũng nghiêm và buồn, tâm chí đâu mà nói chuyện với nhau. Chúng tôi không cùng nộp bài thi một lần. Nộp bài thi xong thì mạnh ai nấy biến. Ngoài những lần gập nhau trong các kỳ thi có lẽ số lần chúng tôi gập nhau chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Tôi chỉ nhớ trong bốn năm học tôi nghe Quang hát ba lần: một lần tại Giảng Đường Spellman, một lần tại Giảng Đường Thụ Nhân và một lần tại quán T2 của Nguyễn tường Cẩm và Nguyễn lập Chí.

Trong thời gian thụ huấn tại quân trường Quang Trung và Thủ Đức chúng tôi không ở cùng đại đội. Trong hai tuần sinh hoạt tại trường trung học Võ Khoa, tôi chỉ nói chuyện với Quang hai lần . Một lần chúng tôi tụ họp để nghe anh Thiếu Tá Thùy, trưởng phòng CTCT trường Võ Bị Thủ Đức, chỉ thị về công tác của chúng tôi trong hai tuần tại trường Võ Khoa và một lần chúng tôi họp để bàn về buổi lễ bế giảng khóa huấn luyện. Buổi bế giảng khóa huấn luyện có những mục thi cắm lều nhanh, thi cứu thương, hợp ca và kết thúc bằng một màn vũ của người da đỏ nhảy múa quanh totem. Màn vũ này do Quang sáng tác và tập cho các em. Trong hai tuần công tác, tôi và Nguyễn mạnh Phước phụ trách thành lập và huấn luyện một thiếu đoàn. Quang làm việc trong ban chỉ đạo công tác cùng với anh Thùy và anh Nguyễn minh Triết.

Khóa học Căn Bản CTCT, tôi chỉ nói chuyện với Quang có một lần. Quang chỉ học có một tuần rồi biến mất, không một lời từ giã . Quang được cử đi Pháp và một số nước Âu Châu trong một phái đoàn văn nghệ do chính phủ VNCH tổ chức.

Thời gian tôi làm việc chung với Quang dài một năm tại Cục Chính Huấn từ năm 1970 đến năm 1971. Trong thời gian một năm đó, tôi và Quang cũng ít khi gặp nhau trong giờ làm việc vì chúng tôi phải đi công tác luôn. Tôi chưa bao giờ được đi công tác chung trong một toán công tác với Quang. Chỉ có hai lần, hai toán công tác của chúng tôi gập nhau : Một lần tại An Thới Phú Quốc, một lần tại Nha Trang. Ngoài giờ làm việc chúng tôi không đi chơi chung với nhau. Quang thì bận rộn với phong trào Du Ca. Vô công vô nghệ như Hồ Phán, Nguyễn duy Linh, Đặng đình Tiến và tôi thì thỉnh thoảng chúng tôi ra Pagoda, Mai Hương hay Grival, ngồi ngắm thiên hạ qua lại. Trước năm 1975, lần cuối cùng tôi gập Quang là lần Quang ở trong toán công tác của Cục Chính Huấn đến huấn luyện cho các trung đội Chính Huấn của đơn vị tôi, Tiểu Đoàn 20 CTCT tại Pleiku. Sau đó tôi nghe tin Quang được biệt phái về làm việc tại Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn . Tôi gập lại Quang vào năm 1995 nhân dịp Quang lên Seattle trình diễn vào dịp Tết Âm Lịch do lời mời của Hội HO Seattle.

Năm 2000 Quang tặng tôi tập nhạc Dưới Ánh Mặt Trời nhân dịp Quang lên Seattle để nhận cây đàn Guitar do anh Cao Hoàng tặng, với lời đề tặng :

 Nguyễn đức Quang

 tặng

 Nguyễn đức Quang

 Seattle 05 . 28 . 00

Nhiều người mới đọc lời đề tặng cho là lời tặng kỳ quái

Hôm nay tôi viết một câu truyện có đề tựa:'' Nguyễn đức Quang Già Cơ viết về Nguyễn đức Quang Du Ca''.

 NHỮNG TRỚ TRÊU

Tôi thực sự gập nhiều sự trớ trêu vì trùng họ tên, trùng chừ lót, năm sinh, cùng lớp học, cùng trường học với một người nổi tiếng. Sau khóa huấn luyện cơ bản về CTCT, tôi được bổ nhiệm về Cục Chính Huấn. Tôi cầm sự vụ lệnh vào trình diện đại tá Cao đăng Tường. Đại tá Tường là một người cao lớn, hồng hào, đẹp trai, mặt mày phúc hậu. Ông ta vui vẻ mời tôi ngồi. Đít tôi chưa chạm ghế, tôi nghe ông hỏi :

- Anh đi Pháp có vui không ?

- Thưa không

Do phản ứng vội vàng nên câu trả lời của tôi không chính xác và vụng về. Thật ra tôi chỉ muốn nói tôi không phải là anh Nguyễn đức Quang được chính phủ cử đi Pháp. Đại tá Tường thân mật hỏi tiếp :

- Sao lại không vui ? đi Pháp mà lại không vui sao ?

- Không đại tá

Lại một câu trả lời không chính xác và ngớ ngẩn, nhưng lần này tôi đính chính ngay :

- Thưa đại tá tôi không phải là Nguyễn đức Quang

Câu trả lời này đúng là câu trả lời ngớ ngẩn và ngu đần, khiến đại tá Tường nhìn tôi rồi nhìn tờ trình của phòng nhân viên để trên bàn :

- Anh không phải là Nguyễn đức Quang ?

- Thưa đại tá tôi là Nguyễn đức Quang, nhưng tôi không phải là anh Nguyễn đức Quang nhạc sĩ

Lần này thì tôi đã trả lời chính xác. Đại tá Tường nhìn tôi , nhìn vào tờ trình của phòng nhân viên rồi nói với tôi bằng giọng không mấy vui :

- Chuẩn úy cứ xuống trình diện tại phòng Hướng Dẫn Sinh Hoạt

Tôi đến gần phòng Hướng Dẫn Sinh Hoạt, tôi nghe vọng ra từ trong phòng tiếng hát của một ban đại hợp xướng. Khi tôi bước vào phòng thì phòng bỗng im phăng phắc. Hơn bốn mươi cô ca sĩ đang được một anh quân nhân tập hát ( trung sĩ nhất Nguyễn văn Nụ) đưa mắt nhìn tôi . Lần đầu tiên trong đời tôi được một đám đông mỹ nhân chiêm ngưỡng khiến tôi bối rối. Tôi lúng túng bước theo chân trung uý Lê minh Đức vào trình diện thiếu tá Phó đức Toàn. Thiếu tá Toàn giới thiệu tôi với sĩ quan trong phòng rồi đưa tôi ra phòng tập hát để giới thiệu tôi với các cô ca sĩ . Sau đó thiếu tá Toàn ra lệnh cho tôi tự giới thiệu với các sĩ quan và các cô ca sĩ . Tôi nói :

- Thưa thiếu tá trưởng phòng, thưa quí vị sĩ quan, thưa các cô. Thiếu tá trưởng phòng bảo tôi tự giới thiệu tôi với quí vị. Nhưng sự việc vừa xẩy ra ca'ch đây nửa tiếng tại phòng đại tá Cục Trưởng khiến tôi nghi ngờ tên thật của tôi . Tại sao ? tôi xin kể cho quí vị nghe một câu truyện : Năm 1967 tôi đi từ Đà Nẵng ra Huế (Tôi không kể chi tiết sau đây Năm 1967 chị Nguyễn thi minh Nguyệt, Trần minh Châu, Phạm văn Răng và tôi đi công tác tại tỉnh Quảng Nam cho chương trình Kinh Tế Hậu Chiến của giáo sư Vũ quốc Thúc. Sau khi hoàn thành công tác. Tôi đi Huế để thăm người con gái tôi yêu ở ga Huế . Phạm văn Răng xin đi theo tôi để thăm xứ Huế mà anh chưa biết) . Trên đường đi Huế phải vượt qua đèo Hải Vân. Trước đó vài ngày, Việt Cộng đã giật xập một cây cầu trên đèo và còn đóng một chốt trên đèo Hải Vân. Từ cái chốt này họ bắn vào các xe chạy qua đèo. Ai muốn đi qua đèo phải đi bộ vì cầu gẫy đang được một toán công binh Mỹ sửa chữa nhưng chưa xong. Họ phải đi bộ khoảng ba mươi lăm cây số từ chiếc cầu gẫy ra đến Lăng Cô mới có xe đi Huế. Xe của tôi đến nơi cầu gẫy từ sáng sớm và vẫn chờ với hy vọng cầu sửa xong và sẽ đi Huế được. Đến quá trưa có nhiều xe đã bỏ cuộc quay trở về Đà Nẵng. Hành khách trên xe kiên trì chờ cầu sửa xong, chỉ có vài người theo xe khác để trở về Đà Nẵng. (tôi bỏ qua chi tiết, xe tôi kiên trì chờ đợi vì bác tài xế và hành khách ba hôm nay không về nhà của họ ở Huế được. Còn tôi, nếu không có Phạm văn Răng, tôi đã theo một toán người đi bộ để đến Lăng Cô. ) Đến khoảng năm giờ chỉ còn một mình xe tôi, tất cả các xe khác đã trở lại Đà Nẵng. Bác tài xế là người thiếu kiên nhẫn hơn cả. Bác ta lên xe, xuống xe, mở máy xe, tắt máy xe không biết bao nhiêu lần . Bác tài chỉ tôi rồi nói như ra lệnh : '' Anh này biết tiếng Mỹ, anh lên hỏi xem có qua cầu được không ?'' (Ngồi bên cạnh tôi là Phạm văn Răng đeo kiếng trắng, người cao to trông trí thức hơn tôi nhiều . Tại sao bác tài không sai Răng mà lại sai tôi . Tiếng tây tiếng u của tôi không ra gì nên tôi lưỡng lự. Ba'c tài bồi thêm một câu :'' Cậu đi hỏi giúp bà con một chút đi . Không biết sắp nhỏ của tôi ra răng ?'' Một bà lên tiếng :'' Thằng con tôi bệnh mấy hôm nay. Hôm tôi đi đã thấy hắn biếng ăn ''. Tôi rủ Răng đi với tôi. Răng từ chối, tôi đành phải xuống xe đi về phía cây cầu gẫy với dáng điệu không mấy tự tin .) Khi đi đến cây cầu, tôi dõng dạc hỏi thằng Mỹ :'' Xe của chúng tôi qua cầu được không ?''. Tụi Mỹ không trả lời câu tôi hỏi. Một thằng Mỹ trắng to lớn đi về phía tôi. Nó lớn giọng nói với tôi :'' con cóc ''. Tôi không hiểu nó nói gì . Tôi nói với nó :'' Tôi không hiểu '' . Nó tiến đến gần tôi, nó lớn tiếng nhắc lại :'' Con cóc ''. Tôi thật sự lúng túng . Lúc ấy tôi mới thấy dốt tiếng Anh thật tai hại . Bỗng nó chụp lấy vai tôi. Nó lôi tôi lên chỗ đất cao hơn. Mặt tôi tái đi . Tôi như một con nhái bị một con rắn lồng tha đi. Nó hất hàm nhìn tôi nói lớn :'' con cóc ''. Bọn lính Mỹ ngừng công việc. Chúng nhìn xem thằng bạn chúng làm tình làm tội tôi . Chúng cười ha hả . Một vài thằng nói lớn :'' Con cóc '' . Bỗng thằng Mỹ rút cây súng colt. Một tay nó vẫn giữ vai tôi, một tay nó lên đạn. Nó chĩa súng vào đầu tôi. Bọn Mỹ đang cười bỗng im lặng. Cái im lặng để chờ đợi một điều bất hạnh xẩy ra . Lúc ấy tôi bình tĩnh lạ lùng. Tôi đưa mắt nhìn lên trời xanh và những cụm mây trắng, tôi đưa mắt nhìn xuống biển xanh thật êm ả, tôi đưa mắt nhìn về vịnh Thanh Bình xa xa, bờ biển ngày thơ ấu của tôi. Bỗng tôi đưa tay vào túi quần, tôi rút ví, lấy thẻ căn cước và đưa cho thằng Mỹ. Thằng Mỹ nhìn căn cước rồi nhìn tôi. Nó buông tôi ra, vỗ vai tôi và nói :'' Ok, Ok ''. Bọn Mỹ cười ha hả, chúng trở lại với công việc của chúng. Tôi hỏi thằng Mỹ :'' Xe của chúng tôi có thể qua cầu được không ?'' Thằng Mỹ cười :'' yes ''. Tôi vẫy tay ra hiệu cho bác tài lái xe lên. Tối hôm đó chúng tôi có mặt tại Huế . Quí vị thấy, chỉ vì tôi hiểu lầm rằng thằng Mỹ nói tiếng Mỹ, nhưng thật ra nó lại nói tiê'ng Việt mà khiến suýt nữa tôi mất mạng trên đèo Hải Vân. Thằng Mỹ chỉ muốn xem thẻ căn cước của tôi. Vậy mà tôi tưởng hắn nói con cóc là một danh từ tiếng Mỹ mà tôi không biết nghĩa. Trước đây nửa tiếng đồng hồ đại tá Tường tưởng lầm tôi là nhạc sĩ Nguyễn đức Quang mà tôi có duyên được làm việc cùng quí vị tại phòng Hướng Dẫn Sinh Hoạt. Tôi tự giới thiệu tôi là Nguyễn đức Quang nhưng không phải là nhạc sĩ danh tiếng Nguyễn đức Quang.''

Trong phòng gọi tôi là Quang A vì tôi vào làm việc trước, còn gọi Quang là Quang B vì Quang vào làm việc sau. Các cô coi tôi như người anh và gọi tôi bằng anh Quang. Các cô thì coi Quang như bậc thầy và gọi Quang là Thầy Quang. Cách đối xử của các cô với Quang có phần cung kính và nể nang, trọng vọng hơn là đối với tôi. Thời gian phục vụ tại Cục Chính Huấn, tôi thường được các cô mời dự sinh nhật, các buổi họp mặt bạn bè, gia đình. Không khí làm việc tại Phòng Sinh Hoạt rất là thân tình và vui vẻ. Tôi làm việc tại Cục Chính Huấn, mẹ tôi rất lo lắng. Mẹ tôi sợ con dâu tương lai của bà sẽ là cô ca sĩ chính huấn. Thấy tôi gói quà để đi dự sinh nhật, hay dự tiệc gì đó của các cô ca sĩ chính huấn, mẹ tôi thường nhắc tôi :’’ Cẩn thận đấy nghe con, vướng phải ca sĩ thì khổ vào thân ‘’. Mẹ tôi là phụ nữ Việt Nam cổ nên vẫn còn quan niệm xướng ca vô loài . Nhưng theo tôi các cô cán bộ Chính Huấn này rất đàng hoàng và tình nghĩa. Tôi biết các cô có chồng và gia đình đều rất đàng hoàng vững vàng … Nếu có gia đình nào không ổn thì nguyên nhân là từ phía ông chồng gây ra cả. Phòng Hướng Dẫn Sinh Hoạt không lớn nhưng rất nhiều nhân viên, cả sĩ quan và cán bộ có tới trên năm mươi người. Là một một đơn vị nhỏ trong Cục Chính Huấn, nhưng công tác họ thực hiện đã nâng Cục Chính Huấn lên một mức rất hãnh diện thời đó. Tôi không ở lâu tại đây, tôi cũng không nghe Quang Du Ca khoe những thành tích đóng góp của hắn cho đơn vị Chiến Tranh Chính Trị này như thế nào. Tôi chỉ biết hắn rất đươc mọi người trong Cục Chính Huấn quý mến. Không những các cô cán bộ phục lăn cái tài sinh hoạt của hắn mà cả các sĩ quan từ trưởng phòng tới trưởng khối và cả cục trưởng đều “cưng” hắn ra mặt. Sau này một lần hắn có kể cho tôi nghe cái mức độ “cưng” đó như thế nào.Trở lại đơn vị lính đầu tiên của tôi là Cục Chính Huấn. Tôi không thể không đi xa ra đề tài đôi chút để nói về Cục Chính Huấn. Các cán bộ là thành phần khổ nhất vì họ không phải lính mà cũng không phải là sĩ quan. Họ chỉ là dân chính nên họ chẳng có quyền lợi gì, trong khi công tác thì rất cực nhọc, thường xuyên phải đi công tác xa Sài Gòn, theo chân các đơn vị tác chiến mỗi tháng chừng hai, ba tuần, sống không khác gì lính tác chiến. Khi di tản, phải nói là họ bị bỏ rơi vì chẳng có quyền lợi gì. Vậy mà sau 1975 tôi thấy họ đã làm được một việc hết sức ngoạn mục. Tại Mỹ nhân viên thuộc phòng Chính Huấn thỉnh thoảng tập họp vui chơi ăn uống là một việc tốt nhưng bình thường. Tại Việt Nam nhân viên phòng Chính Huấn còn liên lạc được với nhau để thăm hỏi, giúp đỡ nhau là một việc làm thật đáng quý và đáng phục. Chính Huấn, Chiến Tranh Chính Trị, An Ninh Tình Báo, Nhân Viên Biệt Phái là thứ ác ôn, tôi học được điều này ngay ở trong tù. Tôi là một Trung Úy, nhưng vì tôi là trung úy trung đội trưởng trung đội Tâm Lý Chiến nên phải ngồi tù hơn sáu năm… Vậy mà ngày nay các cán bộ Chính Huấn trong nước và ngoài nước đã liên lạc với nhau, thăm hỏi nhau và giúp đỡ nhau rất tận tình. Điều này làm chính tôi cũng kinh ngạc lẫn xúc động.

Cách đây vài tháng Quang điện thoại cho tôi. Quang hỏi tôi :” Mày có biết tin thằng Hoài chết chưa ?” Hoài là Đại Úy chánh văn phòng Cục Trưởng Cục Chính Huấn. Quang kể cho tôi nghe về cái chết của Hoài. Hoài chết thật lạnh lùng, một cái chết mòn mỏi, kéo dài và cô đơn. Vợ con mệt mỏi nên bỏ bê chẳng ai còn sức đoái hoài. Trước ngày Hoài chết có ba người cùng đơn vị cũ thiếu tá Nguyễn kế Nghiêu, đại úy Lê minh Đức, đại úy Nguyễn văn Ruy đến thăm. Ba người nhìn Hoài nằm bất động, thân hình gầy đét trên chiếc giường trong phòng vắng vẻ, chờ ngày ra đi mà nước mắt chẩy dài. Đau khổ nhất là bà mẹ già của Hoài . Hoài được đi Mỹ chắc hẳn bà cụ hy vọng thằng con trai sau này nếu không bảo lãnh bà qua Mỹ để bà được sống bên con cháu thì cũng gởi ít tiền cho bà sống bớt khốn khó ở quê nhà. Vậy mà từ ngày Hoài đi cho đến lúc qua đời, có lẽ vì bất đắc chí với cuộc sống, Hoài đã không làm được điều gì ưng ý. Nhóm Chính Huấn ở ngoài hỏi địa chỉ của bà cụ thì chỉ biết bà cụ vẫn còn sống ở Nha Trang. Ở ngoài bèn liên lạc với trong nước. Lập tức có người lặn lội ra Nha Trang và tìm được bà cụ. Bà cụ cầm phong thư tiền nhưng không phải tiền của con trai. Niềm đau khổ nào lớn hơn ? Tôi nói với Quang :’’ Thằng này thật quá đáng, có mẹ già mà không chịu sống để nuôi bà mà lại chết đi. Thật là giận’’ .

Năm 1995 tôi và vợ tôi đưa thằng con trai đi CA. Mặc dù lúc bấy giờ chúng tôi còn khó khăn, nhưng chúng tôi cố gắng cho thằng con trai được hưởng cái mơ ước của tất cả các trẻ em Mỹ cùng tuổi với nó. Đó là đi xem Disney Land, Studio Hollywood, Sea World, San Diego Zoo. Chúng tôi nghĩ rằng vài ba năm nữa, nó đi Disney Land thì cái thú vị mà nó được hưởng sẽ không trọn vẹn bằng lúc mới mười hai tuổi. Chuyến đi đó, chúng tôi được thiếu tá Nguyễn kế Nghiêu mời tới ở nhà của ông ta. Trung úy Nghiêu đến làm việc tại phòng Sinh Hoạt sau tôi sáu tháng. Tôi chỉ làm việc với ông chỉ trong vòng có sáu tháng rồi tôi bị đưa ra Pleiku. Đến phi trường Los, chúng tôi đứng chờ hơn nửa tiếng mà cũng chưa thấy thiếu tá Nghiêu đến đón. Thằng con tôi hỏi :” Bố còn nhớ mặt ông ấy không?”. Một tiếng sau anh Nghiêu chạy đến. Chúng tôi nhận ra nhau ngay. Anh Nghiêu nói :’’ Tôi chờ ông hơn một tiếng đồng hồ ở tầng trên’’. Nỗi lo của tôi tan biến. Anh Nghiêu không đến thì tôi làm sao tôi trả lời vợ con tôi về những điều tôi nói về tình nghĩa của nhân viên Cục Chính Huấn. Chúng tôi được vợ chồng anh Nghiêu tiếp đón rất thân tình. Anh Nghiêu còn tổ chức một buổi họp mặt cựu nhân viên phòng sinh hoạt cục Chính Huấn tại nhà Quang. Hôm đó tôi gập những anh em tôi biết mặt và cả những anh em tôi chưa biết mặt. Chúng tôi nói chuyện rất thân mật và chan hòa với người quen và những người mới quen.

Trớ trêu tôi vừa kể làm cuộc đời tôi lao đao thì trớ trêu sau đây khiến tôi suýt mất vợ . Năm 1970 tôi hứa hôn với một cô gái Huế . Người vợ chưa cưới của tôi học năm thứ nhất tại Đại Học Luật Khoa Huế . Một số rất ít người ở Huế không thích Quang đã có ý kiến với người vợ chưa cưới của tôi về việc định lấy tên Nguyễn Đức Quang. Vợ chưa cưới của tôi phải đính chính rằng tôi không phải là anh chàng Nguyễn Đức Quang nhạc sĩ. Số ít người này cho rằng phong trào Du Ca là của chính quyền. Nhưng thực sự không phải. Quang có nhiều bài hát tố cáo những thối nát của xã hội miền Nam còn mạnh hơn cả những Tôn thất Lập, Trịnh công Sơn như những bài Ruồi và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Chuyện Buồn Bé Năm, Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Chuyện Quê Ta… Sinh viên tranh đấu Huế đã dùng bài NỖI BUỒN NHƯỢC TIỂU để khích động lòng yêu nước của đồng bào Huế, Phât giáo tranh đấu Huế đã bùng lên sau khi nghe Quang hát bài VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ. Sau này đi tù cải tạo tôi mới biết rằng: '' Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Ai không yêu chủ nghĩa xã hội là không yêu nước.'' Một lý luận hết sức ngây ngô và độc đoán. Lời kể của nhạc sĩ Ngô mạnh Thu làm tôi hiểu rõ hơn tại sao người Cộng Sản không ưa Phong Trào Du Ca. Nhạc sĩ Ngô mạnh Thu là một nhân vật nòng cốt của phong trào Du Ca. Anh là người thay Quang giữ chức Trưởng Xưởng của phong trào Du Ca. Nhạc sĩ Ngô mạnh Thu kể :''…….Vào một đêm cuối năm 1975, tôi nhận được một thư mời đi dự một buổi hội thảo về đề tài Văn Nghệ Với Chế Độ Thực Dân Mới. Thư mời do ông Lưu Hữu Phước, Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc Việt Nam ký. Thuyết trình viên hôm đó là ông Tô Hải, phó viện trưởng Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc Việt Nam. Ông Tô Hải đã nói rằng:’’ Có bốn nhóm Văn Hóa Văn Nghệ là sản phẩm của chế độ thực dân mới. Bốn nhóm đó là :

1. Nhóm Tâm Lý Chiến : Nhóm này gồm Tâm lý chiến quân đôi, tâm lý chiến dân sự, xây dựng nông thôn. Nhóm này nói dối nhân dân để lôi cuốn họ theo đế quốc Mỹ.

2. Nhóm Nhạc Trẻ : Nhóm này được dựng nên để tha hóa, sa đọa hóa thanh niên

3. Nhóm Dân Tộc Giả Hình : gồm những nhóm văn nghệ phục hưng âm nhạc cổ truyền

4. Nhóm Du Ca

Ba nhóm Tâm Lý Chiến, Nhạc Trẻ, Dân Tộc Giả Hình không đáng kể. Riêng nhóm Du Ca rất nguy hiểm. Thứ nhất là bọn Du Ca đã dùng đúng chiến thuật của ta (Việt Cộng) là chiến thuật Đồng Khởi. Trong vòng từ năm 1965 đến 1967, chỉ hai năm từ một nhóm chỉ có sáu bẩy người đã phát triển thành gần ba mươi đơn vị khắp miền Nam. Thứ hai về kỹ thuật thì nhóm Du Ca không cần sân khấu. Chỗ nào nhóm này cũng dùng làm sân khấu được. Nhóm Du Ca không dùng đến dụng cụ âm nhạc cồng kềnh như trống, đàn điện. Họ chỉ dùng đàn guitar nhẹ nhàng. Thứ ba là đội ngũ sáng tác của nhóm này rất hùng hậu …’’

Nhưng theo tôi không phải những lý do mà ông Tô Hải đưa ra khiến cho Việt Cộng liệt nhóm Du Ca là sản phẩm văn hóa văn nghệ nguy hiểm của thực dân mới. Chỉ có lý do duy nhất mà Việt Cộng không ưa Du Ca là Du Ca không chịu xóa tên và nhập vào nhóm Cộng Đồng Thiên Tả của Tôn Thất Lập. Nghĩa là nhóm Du Ca không chịu theo Cộng Sản.

Đó là hai trục trặc lớn do sự trùng tên trùng họ với hắn gây ra, nhưng không phải chỉ có thế, những truyện hiểu lầm lặt vặt xẩy thì rất nhiều và miên man cho đến bây giờ vẫn chưa dứt, nên thỉnh thoảng tôi vẫn phải đính chính muốn đứt hơi. Tôi nhớ năm 1964 là niên khoá đầu tiên của chúng tôi tại trường CTKD. Lúc đó thì Quang chưa nổi tiếng. Để phân biệt tôi và Quang thì trong lớp gọi tôi là Quang Hà Nội còn hắn là Quang Sơn Tây. Lý do là tôi sinh tại Hà Nội, còn Quang sinh tại Sơn Tây. Tôi rất bằng lòng tên bạn bè đặt cho chúng tôi vì Hà Nội thì oai hơn Sơn Tây. Đến năm thứ hai bỗng Quang nổi tiếng. Hắn trình làng ban Trầm Ca rồi Du Ca tại giảng đường Spellman, giảng đường Thụ Nhân. Trong hai buổi trình làng có cả đại nhạc sĩ Phạm Duy đi hát với hắn. Bạn bè không gọi hắn là Quang Sơn Tây nữa mà gọi hắn là Quang Du Ca. Từ tỉnh Sơn Tây nhỏ bé hắn bước lên không gian to lớn là cả nước. Còn tôi thì ngược lại từ một Hà Nội thanh lịch, Paris của phương Đông, tôi bi đẩy xuống chốn của những tên cờ gian bạc lận. Bạn bè trong Đại học xá đặt cho tôi tên mới : Quang Già Cơ. Từ đó bạn bè gọi hắn là Quang Du Ca nghĩa là hắn vẫn còn giữ được tên cha mẹ đặt cho :''Quang.'' Còn tôi thì bạn bè quên hẳn tên Quang của tôi. Gọi tôi đi ăn cơm :''Già Cơ đi ăn cơm'', gọi tôi đi chơi :'' Già Cơ đi ra phố không ?'' ; gập nhau ngoài phố :'' Ê Già Cơ '' …. Từ nay tôi là Già Cơ không còn là Quang nữa. Giống như thời thơ ấu tại xóm ga Đà Nẵng, tôi là thằng Cu Đen không còn là thằng Quang. Ai đến xóm ga Đà Nẵng hỏi nhà thằng Quang ở đâu thì có lẽ ít ai biết, nhưng nếu hỏi nhà thằng Cu Đen ở đâu thì mọi người chỉ được ngay, kể cả những người lớn.

Qua đến Mỹ, bạn bè quên hẳn trong lớp CTKD I có hai thằng Nguyễn đức Quang . Mỗi khi điện thoại cho chúng, tôi lại phải nhắc cho chúng nhớ :'' Tao là Quang Già Cơ đây ''. Khi gia nhập THUNHAT.NET tôi nhận được nhiều điện thư nồng nhiệt thăm hỏi hết sức thân tình. Có điện thư hỏi đang ở Cali sao lại bỏ đi lên xứ mưa dầm, mưa dề và đi khi nào ? Có điện thư mong được nghe lại những bài hát ngày xưa như BÊN KIA SÔNG, NỖI BUỒN NHƯỢC TIỂU …, có điện thư viết ông đại nhạc sĩ sao ông lặn sâu thế, bây giờ ông mới chịu trồi lên … Tôi nghĩ mình phải làm sống lại cái tên Già Cơ trong nhóm cựu sinh viên Đà Lạt . Thế là tất cả điện thư tôi gửi đi, tôi đều ký tên Quang Già Cơ . Phương pháp này quả là rất hiệu nghiệm. Mọi người nay công nhận có một Nguyễn đức Quang Già Cơ. Nhưng cũng có một điều không mấy tốt đẹp xẩy ra cho tôi từ cái tên Già Cơ ấy. Mặc dầu Châu tấn Xuyên đã đưa ra một lý do tuy không đúng sự thật, nhưng cũng không kém hấp dẫn rằng:'' Mặt anh Quang này giống hình già cơ trong bộ bài tây, nên anh em đặt là Quang Già Cơ để phân biệt với anh Quang kia là Quang Du Ca '', Phần đông anh em vẫn cho tôi là tên cờ bạc gạo nên mới bị đặt tên là Già Cơ. Tôi nhận được điện thư của một anh khoá 8 viết rất là thách thức :'' Em sẽ lên Seattle gập anh với một bộ bài. Được đụng với cao thủ đàn anh là một mơ ước '' . Phan bá Phi trong một loạt bài viết để tâm tình với cha Lập (Linh Mục Nguyễn văn Lập, Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt thời chúng tôi) lúc ngài sắp qua đời có đoạn viết :'' Ở Seattle của chúng con có anh Quang Già Cơ. Sở dĩ anh em đặt anh là Già Cơ vì anh đánh phé nhiều hơn học bài. Xin cha tha tội cho anh ấy và xin cha tha tội cho mọi lỗi lầm của tất cả chúng con …''. Nhưng hai truyện sau đây còn cho thấy mọi người còn có những ý tưởng ghê ghớm hơn nữa: Người ta hình như không muốn ai có tên Nguyễn đức Quang ngoài hắn. Truyện thứ nhất là vợ chồng tôi và vợ chồng ông Trần văn Đức (ông Đức là bà con vai cậu của vợ tôi) đi PortLand dự đám cưới con trai chị Bùi thị Ngọc Nga (bạn cùng lớp ở Viện Đại Học Đà Lạt). Buổi tiệc tan sớm nên chúng tôi nhận lời mời của vợ chồng người bạn với ông cậu vợ tôi là nhạc sĩ Từ công Phụng đến chơi nhà ông ta. Nhạc sĩ Từ công Phụng tặng chúng tôi hai CD nhạc của ông. Viết lời tặng cho cậu mợ tôi xong, ông Phụng hỏi tôi :'' Xin lỗi anh tên gì để tôi viết lời tặng''. Tôi trả lời :'' Tôi tên Nguyễn đức Quang '' Ông cậu vợ tôi buột miệng xác định ngay :'' Nguyễn đức Quang giả hiệu ''. Câu truyện thứ hai : năm 2002 vợ chồng tôi đi dự trại THẲNG TIẾN 7 ở Houston. Tại cổng trại có dựng một bảng chương trình lớn . Tôi nói với vợ tôi :'' Tối mai được nghe thằng Quang và Nguyệt Ánh hát ''. Chúng tôi vào văn phòng để làm thủ tục nhập trại. Trưởng Kim Thoa hỏi tôi :'' Tên họ của trưởng ?'' Tôi vừa trả lời :'' Nguyễn đức Quang ''. Mọi người chung quanh nhìn tôi. Một trưởng đưa tay trái ra cho tôi. Tôi bắt tay một cách rất miễn cưỡng . Trưởng ấy còn nói :'' Các em thiếu đoàn tôi hát nhiều bài hát của Trưởng . Tôi sẽ nói với các em : Tối mai các em sẽ được nghe chính tác giả hát …'' Tôi nói :'' Thưa trưởng tôi chỉ biết rống chứ không biết hát. Tôi không phải là trưởng Quang nhạc sĩ. Tôi chỉ trùng tên họ với trưởng Quang thôi ''. Hôm đó xui xẻo cho tôi và nhiều người khác là ban điều hành trại không tìm thấy đơn xin dự trại và check đóng trại phí của chúng tôi. Chúng tôi phải chờ nhân viên ban điều hành tìm trong đống hồ sơ không mấy ngăn nắp, trong căn phòng nhỏ và đầy người ra vào. Mỗi lần tôi được ban điều hành hỏi tên là hầu như mỗi lần tôi phải hô to tên mình lên và kèm theo một câu đính chính. Từ đó, trong phòng nhiều người được biết tôi là '' Nguyễn đức Quang giả hiệu ''. Rôì tôi được nhân viên trại hỏi tên. Lại có một trưởng mới tới vừa bước vào thế là lại hiểu lầm . Tôi chưa kịp đính chính thì một trưởng đứng gần nói :'' Biết rồi khổ lắm nói mãi '' . Tôi nói với trưởng Kim Thoa :'' Trưởng cứ cho tôi nhập trại và nhận chỗ, chiều nay tôi sẽ trở lại '' Trưởng Kim Thoa bằng lòng cấp cho tôi giấy nhập trại tạm. Chúng tôi vào trại và tôi thoát được cảnh " Biết rồi khổ lắm nói mãi " vì cái miệng luôn phải trả lời.

Tôi gặp nhiều cái trớ trêu đã đành. Hắn cũng gặp một trớ trêu chỉ vì trùng tên với tôi. Theo trí tưởng tượng của tôi nếu hắn không gập may mắn thì đời hắn đã tàn và có khi hiện nay hắn phải bị giam trong nhà thương tâm thần nào đó. Truyện này do chính hắn kể trước mặt tôi và bạn bè Đà Lạt. Hôm 16 tháng 8 năm 2003 tôi tổ chức một tiệc đón tiếp hắn tại nhà tôi. Hôm đó Hoàng minh Châu khoá 10 CTKD nói :'' Em nghi lắm anh Quang à . Em nghi chỉ có một người đi thi thôi '' Quang nói liền :'' Thôi cha nội đừng có khơi lại nỗi đau khổ của thằng già này nữa”. Hắn nói tiếp :” Thi xong cuối năm thứ ba, tôi điện thoại lên Đà Lạt hỏi kết quả . Mấy thằng bạn trả lời ngon lành: "Đậu rồi, đậu hạng hai, cứ vui chơi ca hát cho thỏa thích " . Tuần sau nghĩ lại, mình làm bài kỳ này có gì xuất sắc lắm đâu mà đậu á khoa. Tốt nhất là điện thoại hỏi lại cho chắc ăn. Mấy thằng bạn trả lời :'' Hỏi hoài vậy cha nội. Chắc chắn rồi, tụi này coi đi coi lại . Nhân viên văn phòng cũng xác nhận mày đậu. Lo sáng tác đi ". Hơn một tháng sau, nhận điện thoại của ông bà già :'' Về Đà Lạt gấp. Tên trên bảng vàng là tên của thằng Quang khỉ gió nào, chứ không phải là mày đâu ". Về đến Đà Lạt đúng là ngày chót hết hạn ghi danh thi kỳ hai . Vôi vàng then cài đóng cửa, thức đêm thức hôm, dùi kinh mài sử ". Tôi tưởng tượng rằng nếu ông bạn nào của tên Quang không phát hiện sự lầm lẫn đó kịp thời, rồi báo cho ông bà già hắn biết thì đời hắn có thể rất thê thảm. Hắn sẽ bị ở lại năm thứ ba . Người yêu hắn là Nguyễn thị Minh Thông đương nhiên trở thành đàn chị hắn. Ở đời chỉ có đàn anh yêu đàn em, hiếm khi đàn chị yêu đàn em. Nên nàng sẽ cho chàng de. Hắn sẽ đi lang thang và làm những bài nhạc vàng khè để trách móc người tình phụ bạc. Những bài nhạc sến này làm sao hợp với phong trào du ca mà hắn là giáo chủ. Đại hội du ca sẽ đồng thanh truất phế hắn và tôn một tân giáo chủ mới cho phong trào. Dĩ nhiên tôi sẽ phải vào nhà thương Chợ Quán để tạ tội với thằng bạn trùng tên họ vì dù sao tôi cũng là một phần nguyên nhân gây nên thảm cảnh này. Nhưng may mắn cho hắn là điều tôi tưởng tượng không xẩy ra. Ngày nay con cái hắn đã công thành danh toại, gia thất ổn định. Tình duyên của hắn với Nguyễn thị Minh Thông bền chặt, đằm thắm.

(Còn tiếp Phần 2)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 2020(Xem: 1031)
Buổi ra mắt sách và hội ngộ mừng Xuân Canh Tý 2020 của hội cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt Nam California diễn ra trong bầu không khí thân mật, thắm tình Thụ Nhân giữa cựu sinh viên các phân khoa Chánh Trị Kinh Doanh, Xã Hội, Văn Khoa, Sư Phạm.
31 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 2127)
"Được sự khích lệ của Thầy Trần Long và các anh chị Thụ Nhân khắp nơi, ban tổ chức đã có buổi họp thứ bẩy 14 tháng 3 năm 2020 và quyết định dời ngày Đại Hội." (Xin mời xem Tâm Thư của Ban Tổ Chức)
17 Tháng Chín 2018(Xem: 5448)
Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới 2018 Bắc California Ngày 15 Tháng 9 --- Đại Hội TN Thế Giới Picnic - Lake Elizabeth, Fremont, California - Ngày 16 Tháng 9
04 Tháng Mười Một 2016(Xem: 6100)
Gần 600 cựu giáo sư và sinh viên Đại Học Đà Lạt từ khắp nơi tề tựu về tham dự đại hội được tổ chức tại Little Saigon cuối tuần qua. Đây là đại hội có số lượng người tham dự cao nhất từ trước tới nay.
28 Tháng Mười 2016(Xem: 6624)
"Để duy trì truyền thống tốt đẹp này. Chúng tôi mạn phép lãnh trách nhiệm nặng nề và phức tạp với ước nguyện được sự hỗ trợ của quý vị Giáo Sư và toàn thể ACE Thụ Nhân."
29 Tháng Tám 2015(Xem: 16434)
Đại Hội Thụ Nhân 2016 sẽ được tổ chức từ ngày 3 tháng 10 năm 2016 đến 14 tháng 10 năm 2016 tại Orange County, California - USA
SINH HOẠT
MINH XÁC QUAN ĐIỂM
- Website do một ít Thụ Nhân chung sức, dù rộng mở đến tất cả đồng môn trong tình thân hữu, nhưng không nhân danh hay đại diện tập thể nào.

- Quan điểm của bài viết trong Diễn Đàn là của cá nhân tác giả, không hẳn phản ánh quan điểm chung của Ban Biên Tập và những người tham gia Diễn Đàn.
KHÁCH THĂM VIẾNG
443,547