Cuộc cách mạng chết ngay từ đầu (Hoàng N. Nguyên)

27 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 22780)
Cuộc cách mạng chết ngay từ đầu (Hoàng N. Nguyên)

MỘT CUỘC CÁCH MẠNG CHẾT NGAY TỪ ĐẦU


Hoàng Ngọc Nguyên


image001_25-content 

 

Thứ ba tới đây sẽ là ngày 1-11, ngày 1-11 thứ 48 kể từ ngày 1-11-1963, ngày cách đây 48 năm nguời ta gọi là “Cách mạng thành công”, và điều này quả thật có thể quan sát được từ trong nhà của nhiều người đến ngoài đường phố trong những ngày vui như mở hội đó. Cuộc cách mạng nào trước sau gì cũng đi vào lịch sử, thời gian cay nghiệt chẳng bao giờ nương tay với những gì đã ở trong tay nó - nhất là đối với “cách mạng”, vừa là hai chữ vừa là một sự kiện lịch sử thường bị lạm dụng man rợ nhất. Nhưng phần lớn những cuộc cách mạng nào cũng còn được nhớ đến, được nhắc lại –ít nhất bởi những người từng can dự, từng là tác nhân của những thay đổi thời thế, hay bởi những người đã sống trong những giờ phút đó, hay bởi những thế hệ về sau muốn tìm hiểu những bài học có thề rút ra được từ đó. Nước Pháp có cuộc cách mạng 1789 lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế. Nước Mỹ có cuộc “Cách mạng Hoa Kỳ” đánh đuổi thế lực cai trị của đế quốc Anh. Nước Nga có cuộc “cách mạng vô sản tháng mười”. Trung quốc có Cách mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên. Iran có cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Thậm chí Cộng Sản Việt Nam còn dựng lên được cuộc Cách mạng tháng tám. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng Phong trào Cách mạng Quốc gia, nhưng ngọn lửa cách mạng sớm lụi tàn sau hai năm đầu tiên. Tất cả những cuộc cách mạng đó còn được nhớ đến - như những cuộc cách mạng. Trừ cuộc “cách mạng 1-11”. Trong khi đó, để hiểu câu chuyện sụp đổ của chế độ dân chủ tự do ở miền nam, người ta cần nhìn lại cuộc “cách mạng 1-11” này can đảm hơn, một cách phê phán hơn, nhưng cũng phải đa diện hơn. Chẳng như thế, làm sao cho những thế hệ về sau này có thể nhìn lại lịch sử một cách đúng đắn hơn?

 Trong cuôc “cách mạng 1-11” này, hai thành phần chính xuất hiện trên sân khấu là phong trào đấu tranh của Phật giáo và các tướng lãnh lãnh đạo của quân đội miền nam. Tiếc rằng đã từ lâu, chẳng phài chỉ mới gần đây, người ta không nói gì mấy đến “chuyện xưa tích cũ” vế biến cố này. Những người từng tồ chức và cầm đầu cuộc đảo chánh đưa đến sự sụp đổ của nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn cứ im hơi lặng tiếng, ngay cả khi họ còn sống. Nay thì nhiều người đã không còn nữa - gần nửa thế kỷ đã trôi qua còn gì. Những người it ỏi còn sống mà ta còn có thể kể tên, các cựu tướng Tôn Thất Đính, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm… vẫn thủ khẩu như bình trước những dư luận không mấy hay ho về những chuyện hậu trường của các tướng lãnh với Mỹ trong biến cố đó. Có chăng còn nói đến thời đó là những người còn thương tiếc chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, những ngưòi viết thường nêu bật những nền tảng cho chế độ quốc gia mà nền Đệ nhất Cộng hòa đã xây dựng được, nhưng cũng để lộ những thiếu sót to lớn khi không giải thích được trung thực, đúng mức vì sao những ngưòi lãnh đạo họ Ngô đã để cho xảy ra cuộc đảo chánh với kết quả thảm khốc là cái chết của hai ông Diệm và Nhu trong chiếc xe thiết giáp đó. Chẳng thể không có những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách tôn giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm mà lại có phản ứng ngày càng quyết liệt của phía Phật giáo, chưa nói đến nói chung chính sách chính trị đối với các đảng phái chính trị của nền Đệ nhất Cộng hòa cũng dẫn đến một sự chống đối đương nhiên, mà cụ thể là sự ra mắt của Nhóm Caravelle vào tháng tư năm 1960.

 Tuần vừa qua, trước cái chết của ông Đại tá Moammar Gaddafi cựu quốc trưởng của Libya, chúng ta không khỏi liên tưởng đến cái chết của hai ông Diệm và Nhu gần nửa thế kỷ trước, mặc dù thực sự chẳng có gì mấy để so sánh. Gaddafi là lãnh tụ khát máu của một chế độ độc tài, chuyên chế tàn bạo, cầm quyền cả 40 năm. Ông ta bị một nhóm người bắt khi tìm cách chạy trốn trong giao tranh, bị đánh đập nhừ tử và bị bắn vào đầu, xuyên sọ. Liên Hiệp Quốc đang đòi mở một cuộc điều tra về cái chết của ông. Ông Diệm là ngưòi quốc gia, đạo đức, không có những chủ trương, chính sách tàn bạo, phi nhân. Ông không chủ trương tàn sát người đối lập. Ông không tính chống lại phe đảo chánh bằng mọi giá. Ông không phản kháng khi bị bắt. Đi bắt ông là những người tin cẩn được các tướng lãnh cầm đầu cuộc binh biến giao nhiệm vụ. Nhiệm vụ gì những người này đưọc giao phó? Bắt ông hay thủ tiêu ông, đây là một “bí mật hở” - ai cũng biết, bởi vì hai ông Diệm và Nhu đã bị bắn chết sau khi bị vất vào xe thiết giáp, thay vì có thề giải hai ông đi trong một xe quân đội hay xe cảnh sát đàng hoàng và “lịch sự”.

 Chẳng có ai đòi phải có cuộc điều tra về cái chết của hai ông vào lúc đó. Người có trách nhiệm chủ chốt vào lúc đó đương nhiên là ông tướng Dương Văn Minh, vì ông là người có quyền lớn nhất, cao nhất, và kẻ thừa hành nhiệm vụ cũng là người của ông. Ông càng im lặng, và đã im lặng cho đến khi chết, một sự im lặng tầm thường, đen tối, thiếu tầm cỡ, trách nhiệm càng rõ ở ông, và càng làm cho ngưòi ta thấy rõ sự “bất ồn”, “bất an” nơi con người của ông, nơi sự lựa chọn ông như một người có thể lãnh đạo đất nước – cho dù có người có thế nói khác đi. Từ cái “bất ổn” nơi con người của ông là sự “bất ổn” nơi những người ủng hộ ông. Đáng tiếc thay, những người ủng hộ “giải pháp Dương Văn Minh”, “lực lượng thứ ba” của Dương Văn Minh là một lực lượng không phải nhỏ. Trong cả những năm cuối của nền Đệ nhị Cộng hòa, những người đi theo Dương Văn Minh hầu như đã chỉ cho ngưòi dân miền nam thấy rằng ông là sự lựa chọn khác và duy nhất cho miền nam – ngoài ông Nguyễn Văn Thiệu. Nguyễn Văn Thiệu hay Dương Văn Minh, đúng cả hai đều là những lựa chọn không ổn. Bởi thế mới xảy ra ngày 30-4-1975!

 Nhưng dĩ nhiên, Hội đồng Quân nhân Cách mạng không chỉ có ông Dương Văn Minh. Và biết về cái chết của ông Ngô Đình Diệm không chỉ có mấy ông tướng trong hội đồng này mà còn có thề nhiều sĩ quan cấp dưới nhưng đứng gần hiện trường. Chẳng có nhân vật nào thời đó đủ dũng khí đặt ra công khai câu hỏi về cái chết của hai ông Diệm, Nhu hay lên tiếng tố cáo nếu họ biết được sự thật. Và cho đến nay, cũng chưa một ai dám nói tôi hèn nhát, nhưng sự thực là thế này, thế này. Ngay cả ông Nguyễn Văn Thiệu, sau này làm tồng thống, đã “bình thường hóa” quan hệ với những nhóm trung thành với ông Diệm, nhưng vẫn úp úp mở mở khi người ta nói ông cũng có trách nhiệm về cái chết của ông Diệm, thay vì nói thẳng ai ra lệnh giết ông Diệm (là câu có thể dễ trả lời), và tại sao ông im lặng không nói điều này ra từ trước (đúng là khó trả lời).

 Trong khi miền nam đang bị hiểm họa xâm lăng kiểu mới của cộng sản miền bắc, các ông tướng này xem nhẹ sự đe dọa của mất nước mà chỉ tìm cách nắm quyền lâu dài sau cuộc đảo chính. Đó là một sự thoái trào nghiêm trọng nhất trong cuộc chiến đấu gay go chống cộng sản mà các ông tướng gây ra. Đảo chánh từ tháng 11 năm 1963, nhưng các ông tướng này cứ lần lửa chờ đến tháng tám năm 1966, tức gần ba năm sau mới tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến, và bầu cử chỉ để đưa một ông tướng lên nắm quyền tổng thống cho đến khi chế độ miền nam sụp đổ. Rõ ràng là những ông tướng lãnh đạo hay có trách nhiệm ít nhiều đến cuộc đảo chánh 1-11 không chỉ làm hỏng cuộc “Cách mạng 1-11” mà còn làm hỏng cuộc chiến đấu của quân dân miền nam chống quân xâm lược sau này. Với những vết tích đầy dẫy như thế không tẩy sạch được trong quân sử của Việt Nam Cộng Hòa, làm sao còn được những “nhà cách mạng” trong quân đội để nói về biến cố đó.

 Thế nhưng ngày 1-11-1963 vẫn là một ngày hội lớn cho đồng bào Phật tử, cho hàng triệu người hoặc đã trực tiếp tham gia tranh đấu hoặc đã hướng về cuộc tranh đấu với tâm nguyện mong đợi thành công. Người Phật tử từng nói một mùa pháp nạn, từng chịu những hy sinh với ít nhất bảy, tám người đã tự thiêu, hàng trăm người trên cả miền nam bị bắt bớ, giam cẩm. Cuộc tranh đấu chính thức kéo dài được năm tháng – đều là những con số hết sức khiêm tốn theo “tiêu chuẩn” cùa thời đại cách mạng Hồi giáo ngày nay. Và những ngày đầu tháng 11 năm 1963 đó đã đến như một giấc mơ, lấy đi tất cả những ám ảnh nặng nề, tăm tối, và mở ra những hứa hẹn to lớn của một thời đại phát triển của Phật giáo.

 Tuy nhiên, người Phật tử nhìn lạị thời đó, những năm sau đó, nay có thề mang cảm tưởng tiếc nuối của một cuộc cách mạng bị đánh mất, một thời cơ lớn bị bỏ lỡ. Ít nhiều, ngưòi ta thấy phong trào đấu tranh kéo dài, mở rộng của Phật giáo (xuất phát từ miền trung) sau biến cố 1-11-1963 phải chịu trách nhiệm một phần về sự khủng hoảng chính trị và xã hội trong những năm sau đó, rõ rệt nhất từ 1964 đến 1966, nhưng chẳng thể không tính đến cả giai doạn về sau – cho đến tháng tư năm 1975. Là một tôn giáo của đa số lớn của người Việt Nam, một tôn giáo nổi tiếng về những lời răn con người tránh sân si và nghiệp chướng, dạy cho con ngưòi hiểu cái lẽ sắc sắc không không của bể khổ của cuộc đời vì cái dục, cái đạo từ bi, cứu độ chúng sanh để đi tìm sự siêu thoát, nhưng có những nhà tu lại không thấy nổi bờ giác chẳng xa, thiếu cả sự thương cảm, đau lòng, cầu nguyện cho hương linh của hai người lãnh đạo đã tử nạn vì cuộc binh biến. Thay vì phát triển đạo bằng con đường nhập thế trước một đất nước đang bị họa đao binh, đời sống của người dân đang rơi vào sự loạn lạc, cùng khổ, một số người lãnh đạo tôn giáo lại muốn tiến vào con đường chính trị, khi không có chính quyền trong tay thì trở nên cực đoan, quá khích. Trong cả hai năm 1964 và 1965, nhiều chùa chiền ở miền trung là nơi tụ tập của những người hung hãn hiếu chiến nhất của giới trẻ, mà đối tượng dễ hiểu là người Mỹ và các tướng lãnh được Mỹ ủng hộ.

 Đạo Phật là đạo của quần chúng, của bá tánh, của những ngưòi tin Phật và tìm đến Phật như đi tìm một sự giải thoát, một sự bình an. Đó là một tôn giáo hiền hòa, hiếu hòa, thoát tục, chẳng muốn dính líu gì đến chuyện đời. Trong nghĩa đó, đạo Phật chẳng bao giờ tàn, chẳng bao giờ đi xuống, vì nó ở trong con tim hướng thiện của con người. Đi theo một hướng đối nghịch, những người tu hành đã tự phủ nhận mình, và họ chỉ đưa đạo trượt dần trên con đường đi xuống, và làm cho cái xã hội con người đang ngụp lặn càng trở thành bể khổ tang thương.

 Chính trong cái quá khứ đau buồn của những năm đó mà ngày 1-11 đã không được cử hành như một lễ tưởng niệm của một mùa pháp nạn xa xưa. Và từ cả nửa thế kỷ qua, một cách liên tục, những thử thách quyết liệt vẫn đặt ra cho sự tồn tại và phát triển của Phật giáo trong nước cũng như ngoài nước, cho dù người ta có cảm tưởng như chùa chiền thời nay nguy nga, tráng lệ - thậm chí đỏm dáng hơn, kiểu cách hơn - bởi vì trong thời đại đổi mới chạy theo giá trị vật chất khắp nơi, ngưỏi ta không thấy nổi chùa chiền là của bá tánh theo Phật mà là cơ sở để đầu tư, và cứ quanh quẩn mãi trước câu hỏi tôn giáo và tín đổ, ai phải phục vụ ai.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
SINH HOẠT
MINH XÁC QUAN ĐIỂM
- Website do một ít Thụ Nhân chung sức, dù rộng mở đến tất cả đồng môn trong tình thân hữu, nhưng không nhân danh hay đại diện tập thể nào.

- Quan điểm của bài viết trong Diễn Đàn là của cá nhân tác giả, không hẳn phản ánh quan điểm chung của Ban Biên Tập và những người tham gia Diễn Đàn.
KHÁCH THĂM VIẾNG
473,681